Tác Giả nam cao

Tổng hợp tất cả các đầu sách Ebook hay nhất của tác giả nam cao

Sách của tác giả nam cao

Trang 2
đôi lứa xứng đôi - nửa đêm - cười (bìa cứng)

đôi lứa xứng đôi - nửa đêm - cười (bìa cứng)

Trong ấn phẩm này, Đông A gửi đến bạn đọc các truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Nam Cao từ ba tập truyện: Đôi lứa xứng đôi (Nhà xuất bản Đời Mới, 1941), Nửa đêm (Nhà xuất bản Cộng Lực, 1943), Cười (Nhà xuất bản Minh Đức, 1946); trong đó Đôi lứa xứng đôi là tập truyện ngắn đầu tay của Nam Cao và được xem như một hiện tượng văn học độc đáo lúc vừa ra mắt. Qua các truyện ngắn trong ba tập sách này, ngoài những điều đã biết về văn nghiệp Nam Cao, bạn đọc sẽ phần nào hình dung được nỗi giằng xé giữa việc viết để mưu sinh và viết để phụng sự lý tưởng nghệ thuật mà ông nhắc đến trong truyện ngắn nổi tiếng Đời thừa, cũng như hành trình sáng tác đầy gian truân và vô cùng nghiêm túc của nhà văn. Ấn phẩm được bổ sung bộ minh họa mới của họa sĩ Đặng Xuân Hòa – một trong những tên tuổi nổi bật nhất của hội họa Việt Nam giai đoạn sau đổi mới. Họa sĩ Đặng Xuân Hòa đã tóm bắt được những tình tiết, chi tiết, cảm xúc “đắt giá” và thể hiện trong tranh bằng ngôn ngữ riêng. Minh họa của họa sĩ vừa thể hiện được cái tình, cái ý, những trăn trở suy tư của Nam Cao, lại vừa như cho người xem thấy rõ nỗi nhọc nhằn, sự nghiêm túc trong lao động sáng tạo của người nghệ sĩ. Văn chương và mỹ thuật gắn kết, đan bện vào nhau tạo nên một tổng thể hài hòa, thú vị. Đôi lứa xứng đôi - Nửa đêm - Cười nằm trong tủ sách Văn chương & Mỹ thuật của Đông A. Giới thiệu tác giả: Nam Cao (1915 – 1951), tên thật là Trần Hữu Tri. Quê ông ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Sau khi thi đỗ Thành Chung, ông làm việc tại một trường tư thục ở Hà Nội, sống chật vật bằng nghề dạy học và viết văn. Năm 1943, Nam Cao tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, là một trong những thành viên đầu tiên của tổ chức. Mùa thu năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc và làm việc cho một số tòa soạn báo. Năm 1951, trên đường đi công tác, Nam Cao cùng các đồng đội bị phục kích và hy sinh tại huyện Gia Viễn, Ninh Bình. Là một trong những nhà văn hiện thực lớn nhất của Việt Nam thế kỷ XX, ngòi bút Nam Cao nổi bật với những tác phẩm viết về người nông dân và trí thức nghèo như Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Đôi mắt, Sống mòn, Giăng sáng… Ẩn sau những câu văn chua chát, bức bối, mô tả bộ mặt xã hội xấu xí và những kiếp người nhục nhằn không lối thoát, độc giả phần nào cảm nhận được nỗi trăn trở và lòng thương cảm, xót xa vô hạn của tác giả dành cho con người. Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật. Một số nhận xét: “Tôi quan niệm cuộc đời giản dị lắm. Đời không có nhiêu khê như người ta vẫn viết trong tiểu thuyết trữ tình. Đói thì ăn, khát thì uống. Tôi thấy thế nào cứ viết in như thế, không thêm bớt. Thế cũng đủ rồi, lọ là phải bầy đặt thêm ra làm gì.” - Nam Cao (nói với nhà văn Vũ Bằng) “Mỗi sáng tác của anh đều là tiếng nói một thái độ của ngòi bút. Không ngủ gật hoặc ừ hữ che màn với cuộc sống bấy giờ, mà anh đã quăng vấn đề ra cho bạn đọc suy nghĩ. Những cái bất công bạo ngược mà anh cảm, anh đã viết nó lên.” - Nhà văn Tô Hoài “Đặc điểm của Nam Cao theo tôi là ở sự giản dị chân phương. Cũng như người anh, văn anh không cầu kỳ, nhưng ‘đánh phát nào trúng phát ấy’, đi sâu vào tâm hồn người ta...” - Nhà văn Vũ Bằng “…Ở Nam Cao - đời sống và đời văn là gắn bó với nhau như hai mặt một tờ giấy mỏng, soi bên này mà thấy cả bên kia. Soi vào văn ông để thấy đời; và soi vào đời để nhận thêm các giá trị từ những trang văn im lặng.” - Giáo sư Phong Lê

đời thừa (tái bản 2022)

đời thừa (tái bản 2022)

Đời thừa - tuyển chọn những truyện ngắn đặc sắc của Nam Cao xoay quanh cuộc sống người trí thức, với những tuyên ngôn để đời của nhà văn Nam Cao về văn chương, nghệ thuật. Ớ đề tài người trí thức tiểu tư sản, đáng chú ý là các truyện ngắn:Giăng sáng, Truyện tình, Đời thừa, Mua danh... Nhà văn Nam Cao đặc biệt đi sâu vào những bi kịch tâm hồn của họ, qua đó, đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn. Những tác phẩm đó đã phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người, đồng thời, đã thể hiện sự tự đấu tranh bên trong của người trí thức tiếu tư sản trung thực cố vươn tới một cuộc sống đẹp đẽ, thực sự có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người. Qua sáng tác của mình, Nam Cao thể hiện quan điểm nghệ thuật rằng, một tác phẩm văn học phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. “Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi; ca tụng tình yêu, bác ái, công bằng” và "Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có". Ông đòi hỏi nhà văn phải có lương tâm, có nhân cách xứng với nghề; và cho rằng sự cẩu thả trong văn chương chẳng những là bất lương mà còn là đê tiện."

nam cao - lão hạc (tái bản)

nam cao - lão hạc (tái bản)

Nam Cao (1915-1951) tên thật là Trần Hữu Tri (theo giấy khai sinh 1917-1951), sinh tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phú Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh Nam Cao. Lão Hạc là một truyện ngắn của nhà văn Nam Cao được viết năm 1943. Tác phẩm được đánh giá là một trong những truyện ngắn khá tiêu biểu của dòng văn học hiện thực, nội dung truyện đã phần nào phản ánh được hiện trạng xã hội Việt Nam trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám. Lão Hạc, một người nông dân chất phác, hiền lành. Lão góa vợ và có một người con trai nhưng vì quá nghèo nên không thể lấy vợ cho người con trai của mình. Người con trai lão vì thế đã rời bỏ quê hương để đến đồn điền cao su làm ăn kiếm tiền. Lão luôn trăn trở, suy nghĩ về tương lai của đứa con. Lão sống bằng nghề làm vườn, mảnh vườn mà vợ lão đã mất bao công sức để mua về và để lại cho con trai lão. So với những người khác lúc đó, gia cảnh của lão khá đầy đủ, tuy nhiên do ốm yếu hơn hai tháng và cũng vì trận bão mà lão không có việc gì để làm. Lão đã rất dằn vặt bản thân mình khi mang một "tội lỗi" là đã nỡ tâm "lừa một con chó". Lão đã khóc rất nhiều với ông giáo (người hàng xóm thân thiết của lão).

tuyển tập nam cao (tái bản 2022)

tuyển tập nam cao (tái bản 2022)

Nam Cao có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX . Với 15 năm cầm bút, Nam Cao đã để lại một văn nghiệp đồ sộ với 2 tiểu thuyết, 50 truyện ngắn, bút ký, ... trong đó có những nhân vật như Lão Hạc, giáo Thứ, Bá Kiến, Thị Nở, Chí Phèo,...không thể phai mờ trông tâm trí người đọc nhiều thế hệ . 

tuyển tập nam cao - bìa cứng (tái bản 2022)

tuyển tập nam cao - bìa cứng (tái bản 2022)

"Nam Cao đã thổi hồn trên cuốn tiểu thuyết lớn của đời mình. Người ấy, tài năng ấy đương căng đầy sức lực. Nếu còn sống, chắc chắn những mong muốn của anh sẽ thành sự thật rực rỡ Tuyển Tập Nam Cao trên một tầm xa, rất xa." Đời văn Nam Cao không dài. Trên mười năm sáng tác ở cả hai thời kỳ trước và sau Cách mạng, Nam Cao đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Thời gian trôi qua, tác phẩm của Nam Cao như càng bộc lộ thêm những phẩm chất mới, những giá trị mới. Chúng ta càng thêm yêu quý ông, một tâm hồn trung thực và cao đẹp trong cuộc đời cũng như trên trang sách; một nhà văn chiến sĩ với ý nghĩa đích thực và trọn vẹn của danh hiệu này. Tuyển Tập Nam Cao -  Quyển sách chứa đựng những tác phẩm tâm huyết nhất của nhà văn Nam Cao.

đời thừa (tái bản)

đời thừa (tái bản)

“Đời thừa” - ấn bản mới phát hành 2016 của Minh Long Book tuyển chọn những truyện ngắn đặc sắc của Nam Cao xoay quanh cuộc sống người trí thức, với những tuyên ngôn để đời của nhà văn Nam Cao về văn chương, nghệ thuật. Qua sáng tác của mình, Nam Cao thể hiện quan điểm nghệ thuật rằng, một tác phẩm NXB Văn Học phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. “Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi; ca tụng tình yêu, bác ái, công bằng” và "Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có". Ông đòi hỏi nhà văn phải có lương tâm, có nhân cách xứng với nghề; và cho rằng sự cẩu thả trong văn chương chẳng những là bất lương mà còn là đê tiện.

đời thừa - danh tác văn học việt nam

đời thừa - danh tác văn học việt nam

Trong mảng sáng tác về đề tài tiểu tư sản của Nam Cao, truyện ngắn "Đời Thừa" có một vị trí đặc biệt. "Đời Thừa" đã ghi lại chân thật hình ảnh buồn thảm của người tri thức tiểu tư sản nghèo, nhà văn Nam Cao đã phác hoạ rõ nét hình ảnh vừa bi vừa hài của lớp người này trở nên đầy ám ảnh. Giá trị của "Đời Thừa" không phải chỉ ở chỗ đã miêu tả chân thật cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người trí thức tiểu tư sản nghèo, đã viết về người tiểu tư sản không phải với ngòi bút vuốt ve, thi vị hoá, mà còn vạch ra cả những thói xấu của họ v.v....

chí phèo

chí phèo

Chí Phèo Nam Cao có bút danh là Thúy Rư, Xuân Du, Nguyệt, Nhiêu Khê... Tên khai sinh: Trần Hữu Tri, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1917. Quê quán: làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tác phẩm đã xuất bản: Đôi lứa xứng đôi (truyện ngắn, 1941); Nửa đêm (truyện ngắn, 1944); Cười (truyện ngắn, 1946), Ở rừng (nhật ký, 1948); Truyện biên giới (1951); Đôi mắt(truyện ngắn, 1954); Sống mòn (truyện dài, 1956); Chí Phèo (1957); Truyện ngắn Nam Cao (truyện ngắn, 1960); Một đám cưới (truyện ngắn, 1963); Tác phẩm Nam Cao (tuyển, 1964); Nam Cao tác phẩm (tập I: 1976, tập II: 1977); Tuyển tập Nam Cao(tập I: 1987, tập II: 1993); Những cánh hoa tàn (truyện ngắn, 1988); Nam Cao truyện ngắn tuyển chọn (1995); Nam Cao truyện ngắn (chọn lọc, 1996); Nam Cao toàn tập (1999). Ngoài ra ông còn làm thơ, viết kịch (Đóng góp, 1951) và biên soạn sách địa lý cùng với Văn Tân (Địa dư các nước châu Âu, 1948); Địa dư các nước châu Á, châu Phi, 1949; Địa dư Việt Nam, 1951. “Chí Phèo” – tập truyện ngắn tái hiện bức tranh chân thực nông thôn Việt Nam trước 1945, nghèo đói, xơ xác trên con đường phá sản, bần cùng, hết sức thê thảm, người nông dân bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa. Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân, trái lại nhà văn đi sâu vào nội tâm nhân vật để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện ngay cả khi bị vùi dập, cướp mất cà nhân hình, nhân tính của người nông dân, đồng thời kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo đó trước 1945. Những sáng tác của Nam Cao ngoài giá trị hiện thực sâu sắc, các tác phẩm đi sâu vào nội tâm nhân vật, để lại những cảm xúc sâu lắng trong lòng người đọc.

tuyển tập truyện ngắn - chí phèo (tái bản 2018)

tuyển tập truyện ngắn - chí phèo (tái bản 2018)

Chí Phèo - Tái Bản 2014 "... Cả làng Vũ Đại nhao lên. Họ bàn tán rất nhiều về vụ án không ngờ ấy. Có kẻ mừng thầm. Không thiếu kẻ mừng ra mặt. Có người nói xa xôi: "Trời có mắt đấy, anh em ạ!". Người khác thì nói toạc: "Thằng nào chứ hai thằng ấy chết thì không ai tiếc! Rõ thật bọn chúng nó giết nhau, nào có phải cần đến tay người khác đâu". Mừng nhất là bọn kỳ hào trong làng. Họ tuôn đến để hỏi thăm, nhưng chính là để nhìn Lý Cường bằng những con mắt thỏa mãn và khiêu khích. Đội Tảo, không cần kín đáo, nói toang toang ngay ngoài chợ, trước mặt bao nhiêu người: "Thằng bố chết, thằng con lớp này không khỏi bị người ta cho ăn bùn". Ai chả hiểu "người ta" đó chính là ông. Bọn đàn em thì bàn nhỏ: "Thằng mọt già ấy chết, anh em mình nên ăn mừng". Những người biết điều thì hay ngờ vực; họ chép miệng nói: "Tre già măng mọc, thằng ấy chết, còn thằng khác, chúng mình cũng chẳng lợi tí gì đâu..." Bà cô Thị Nở chỉ vào tận mặt cháu mà đay nghiến: - Phúc đời nhà mày, con nhé. Chả ôm lấy ông Chí Phèo. Thị cười và nói lảng: - Hôm qua làm biên bản, Lý Cường nghe đâu tốn gần một trăm. Thiệt người lại tốn của. Nhưng thị lại nghĩ thầm: - Sao có lúc nó hiền như đất. Và nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn, thị phải nhìn trộm bà cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng.: - Nói dại, nếu mình chửa, bây giờ hắn chết rồi, thì làm ăn thế nào? Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại..."

văn học trong nhà trường - truyện ngắn nam cao (tái bản 2019)

văn học trong nhà trường - truyện ngắn nam cao (tái bản 2019)

“Viết về những con người dưới đáy xã hội, Nam Cao đã bộc lộ sự cảm thông lạ lùng của một trái tim nhân đạo lớn.” TS TRẦN ĐĂNG SUYỀN “Qua những truyện ngắn, con mắt nhìn Nam Cao đặt cho chúng ta, những ý nghĩ Nam Cao gợi dậy trong tâm trí chúng ta, và tinh thần trách nhiệm Nam Cao đề ra với chúng ta, càng ngày ta càng thấy rõ hơn.” NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG “Ngày nay, chúng ta thường hay quan tâm và luận bàn về tính hiện đại của tác phẩm văn học, về cái mới và khả năng thử thách với thời gian của chúng. Thế mà những tác phẩm của chúng ta vẫn bị cũ đi, bị người đọc lãng quên rất nhanh, không chịu được thử thách của thời gian như những cái Nam Cao đã viết ra. Vậy thì ở những tác phẩm của Nam Cao có cái gì khiến nó vẫn cứ mới mãi, được người đọc đọc mãi…” Nhà văn NGUYỄN MINH CHÂU   Mời các bạn tìm đọc •TRUYỆN KIỀU •TRUYỆN NGẮN NAM CAO •GIÓ LẠNH ĐẦU MÙA •SỐ ĐỎ •HÀ NỘI BĂM SÁU PHỐ PHƯỜNG •THI NHÂN VIỆT NAM •THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG •THƠ VĂN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU •THƠ NGUYỄN BÍNH •THƠ XUÂN QUỲNH •…

chí phèo (2017)

chí phèo (2017)

Chí Phèo Chí Phèo là một truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Nam Cao viết vào tháng 2 năm 1941. Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc, thể hiện nghệ thuật viết truyện độc đáo của Nam Cao, đồng thời là một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội. Hiện nay, truyện đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ Văn 11, tập 1. Chí Phèo cũng là tên nhân vật chính của truyện. Truyện ngắn Chí Phèo, nguyên có tên là Cái lò gạch cũ; khi in thành sách lần đầu năm 1941, Nhà Xuất bản Đời mới - Hà Nội tự ý đổi tên là Đôi lứa xứng đôi. Đến khi in lại trong Tập Luống cày (do Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản, Hà Nội, 1946), Nam Cao đặt lại tên là Chí Phèo.

giăng sáng

giăng sáng

Giăng Sáng 'Tối nay lại có giăng. Nhưng Điền chỉ đem có hai cái ghế ra sân. Vợ Điền hôm nay luật quật suốt cả ngày. Con ở xin đi ăn giỗ một hôm. Thị lại phải dệt vải lấy tấm vải để mai đi bán về đưa lãi nợ. Dệt xong thị vội vàng đi đòi món tiền. Về đến nhà, con bé khóc hết hơi. Con lớn thì lem luốc, mũi dãi nguếch ngoác bôi đầy mặt. Nhà cửa còn bề bộn. Con ở vẫn chưa về. Mình thị biết xoay sở làm sao kịp? Thị thấy lòng sôi lên sùng sục, thị giậm chân bành bạch kêu trời. Thị đánh con lớn, chửi con nhỏ, quăng cái chổi, đá cái thúng, và càu nhàu trống không. Rồi thị bế con đi nằm sớm. Đứa con lớn thút thít khóc chán cũng lăn ra ngủ. Mình Điền ngồi ngoài sân. Điền cố thản nhiên. Nhưng da mặt cứ rồm rộm; nó có vẻ dày lên và tê tê. Điền thấy gần như tủi cực. Vợ Điền có lẽ rất yêu Điền. Nhưng thị chỉ biết rằng người ta cần ăn cơm, mặc áo và uống thuốc khi đau ốm. Thị chỉ cố lo cho chồng ba thức ấy. Thị nhịn ăn để chồng ăn.õ Thị nhịn mặc cho chồng mặc. Thị bán đến cả yếm, áo để lo thuốc thang cho chồng. Thị tưởng thế là chồng sung sướng lắm. Nhưng không phải, Điền đã quen với những tình cảm nồng nàn và những lời nói vuốt ve. Nét mặt cau có, ngôn ngữ cục cằn, và nhất là cái lối yêu quá đơn sơ - có thể nói thô sơ - của vợ Điền làm cho Điền khổ.'

← Prev
Next →