
Vân Đài Loại Ngữ Trong lịch sử văn hóa và học thuật Việt Nam, Lê Quý Đôn là một trong những trí tuệ lớn tiêu biểu của thế kỷ XVIII. Ông sinh ngày 2/8/1726 tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, và mất ngày 11/6/1784. Không chỉ là một vị quan lớn dưới thời Hậu Lê, Lê Quý Đôn còn là nhà văn hóa, nhà thơ, nhà sử học và học giả uyên bác, được hậu thế tôn vinh như một trong những nhà bác học lớn của dân tộc. Với tri thức rộng và nghiên cứu sâu, Lê Quý Đôn để lại hơn 40 bộ sách, bao quát hầu hết các vấn đề về lịch sử, văn hóa, nông nghiệp, thiên văn, địa lý, đặc biệt có nhiều tác phẩm nổi tiếng được coi như bách khoa toàn thư ở nhiều lĩnh vực, trong đó có tác phẩm “Vân Đài loại ngữ”. Đây là công trình học thuật tiêu biểu và có giá trị đặc biệt. Tác phẩm được Lê Quý Đôn biên soạn bằng chữ Hán năm 1773, theo phương pháp phân loại và hệ thống hóa tri thức, gồm chín thiên: Lý khí, Hình tượng, Khu vũ, Vựng điển, Văn nghệ, Âm tự, Thư tịch, Sĩ quy và Phẩm vật; bao quát nhiều lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và con người, từ triết học, lịch sử, văn hóa, giáo dục, văn học, ngôn ngữ đến thư tịch và tri thức về thế giới tự nhiên. Lý khí giải thích nguồn gốc vạn vật dựa trên hai phạm trù triết học cốt lõi là lý vàkhí, qua đó thể hiện quan niệm của người xưa về bản thể luận và vũtrụ quan. Hình tượng bàn luận về thiên văn học, giải thích về các hiệntượng tự nhiên, trình bày về lịch pháp và vạn vật học. Khu vũ bàn vềnhững kiến thức địa lý và mối quan hệ giữa thiên văn với chính trị,chính trị và địa lý. Vựng điển nêu và giải thích ý nghĩa của nhiều từngữ Hán học và các thuật ngữ thông dụng; phân biệt cách dùng từ,nguồn gốc tên gọi các sự vật; trình bày những kiến thức về danh vật,chế độ, lễ nghi và các khái niệm trong kinh điển. Văn nghệ lý giảicác quan niệm về văn học và giá trị của văn chương; phân tích vàdẫn chứng một số thể loại văn như thơ, phú, văn sách, biểu, chiếu…;nguyên tắc sáng tác, bình thơ và đánh giá tác phẩm. Âm tự tập trunglựa chọn và giải thích cách đọc chữ Hán và mối quan hệ giữa âm vàtự; dẫn chứng và phân tích cấu tạo chữ, cách dùng chữ, hiện tượngđồng âm, dị âm; đề cập đến phép phiên thiết, vận thư và các nguyêntắc ngữ âm trong Hán học. Thư tịch giới thiệu một số bộ kinh, sử, tử,tập và các sách quan trọng, kết hợp đánh giá giá trị, nội dung và cáchsử dụng từng loại; phân loại thư tịch theo lĩnh vực học thuật và nêuphương pháp đọc sách, lựa chọn sách và tích lũy tri thức. Sĩ quy tậptrung luận bàn về đạo học, việc học, phép tu dưỡng và trách nhiệmcủa người sĩ trong đời sống xã hội, phản ánh quan niệm của tác giả vềgiáo dục và đạo đức. Phẩm vật giới thiệu những ghi chép về động vật,thực vật, khoáng vật cùng nhiều sản vật khác, qua đó phản ánh nhậnthức của người xưa về thế giới tự nhiên. Điểm đặc sắc của “Vân Đài loại ngữ” không chỉ nằm ở phạm vi kiến thức rộng lớn mà còn ở phương pháp biên khảo. Lê Quý Đôn không đơn thuần sao chép tư liệu. Ông sưu tầm, phân loại, đối chiếu, bình luận và lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau, đồng thời bổ sung những quan sát và suy luận của riêng mình. Nhờ đó, tác phẩm vừa kế thừa tinh hoa học thuật phương Đông, vừa cho thấy năng lực tư duy độc lập và tinh thần khảo cứu nghiêm cẩn của một học giả Việt Nam thế kỷ XVIII. Giá trị của cuốn sách còn nằm ở chỗ nó phản ánh diện mạo tri thức của cả một thời đại. Qua từng thiên, người đọc có thể hình dung cách người xưa lý giải vũ trụ, tổ chức xã hội, nhìn nhận văn chương, giáo dục con người và nhận biết tự nhiên. Tác phẩm vì thế không chỉ là một bộ sách để tra cứu, mà còn là một cánh cửa dẫn vào lịch sử tư tưởng, văn hóa và học thuật Việt Nam. Nhân kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 - 2026), việc xuất bản lại “Vân Đài loại ngữ” không chỉ mang ý nghĩa tưởng niệm một bậc đại trí thức, mà còn góp phần đưa một di sản học thuật quan trọng của dân tộc đến gần hơn với bạn đọc hôm nay. Sau gần ba thế kỷ, tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị như một nguồn tư liệu nền tảng đối với việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng, văn hóa, văn học và nhiều lĩnh vực khác. Ấn bản hiện nay kế thừa bản dịch do Trần Văn Giáp biên dịch và khảo thích, Trần Văn Khang thực hiện sách dẫn, Cao Xuân Huy hiệu đính và giới thiệu. Sách thuộc Tủ sách hợp tác giữa NXB Chính trị Quốc gia Sự thật và Omega Plus. THÔNG TIN TÁC GIẢ Lê Quý Đôn,tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, sinh năm Bảo Thái thứ bảy (1726) ở xã Diên Hà, tỉnh Sơn Nam (nay là Thái Bình), là con của Lê Phú Thứ sau đổi là Lê Trọng Thứ, đậu Tiến sĩ năm Bảo Thái thứ năm (1724), làm quan đến Hình bộ Thượng thư, phong tước hầu. Suốt cuộc đời nghiên cứu và trước tác, Lê Quý Đôn để lại hơn 40 công trình có giá trị, phản ánh tinh thần thực học, tư duy khảo cứu nghiêm cẩn và khát vọng hệ thống hóa tri thức của người Việt. Trong số đó, Vân Đài loại ngữ được xem là tác phẩm tiêu biểu nhất, kết tinh vốn học vấn uyên bác và phương pháp biên khảo khoa học của ông. Với cách tiếp cận phân loại và tổng hợp tri thức theo từng lĩnh vực, tác phẩm không chỉ phản ánh diện mạo học thuật của thế kỷ XVIII mà còn được đánh giá là một trong những bộ bách khoa thư sớm và có giá trị nhất của Việt Nam. Hơn hai thế kỷ sau khi ra đời, di sản của Lê Quý Đôn vẫn giữ nguyên giá trị, trở thành nguồn tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng, văn hóa và học thuật Việt Nam, đồng thời là biểu tượng của tinh thần học hỏi, tư duy độc lập và khát vọng khám phá tri thức của dân tộc.

Cảo Thơm - Kiến Văn Tiểu Lục Kiến văn tiểu lục là một tác phẩm có giá trị về văn học, địa lý, lịch sử và thể hiện phần nào tư tưởng và hình thái ý thức của người Việt xưa qua các thời đại Lý, Trần, Lê. Về văn học, Kiến văn tiểu lục cho chúng ta biết thêm về một số thơ văn thời trước. Về địa lý, Kiến văn tiểu lục cung cấp cho chúng ta nhiều chi tiết về các trấn Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang. Ngoài ra tác phẩm còn cung cấp những tài liệu quý giá về nhạc, vũ, phong tục, về Phật giáo và Đạo giáo ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu văn học cổ có thể tìm thấy ở đây nhiều tài liệu tốt cho công tác nghiên cứu của mình. Đây là một tác phẩm nằm trong bộ sách cảo thơm những tác phẩm cổ của văn học Việt Nam. Thông qua tủ sách này bạn đọc sẽ cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn con người Việt Nam, sức sống, đặc điểm, cùng với cái hay, cái đẹp của tiếng Việt và văn chương Việt Nam.

Cảo Thơm - Đại Việt Thông Sử Đại Việt thông sử có vị trí đặc biệt quan trọng trong di sản thư tịch dân tộc cũng như trong sự nghiệp trước thuật của Lê Quý Đôn. Đây là bộ sách sử lớn, ra đời tháng Tám năm Cảnh Hưng thứ 10, Kỷ Tỵ (1749). Tác phẩm được giới sử học đương thời và hậu thế đánh giá cao về giá trị nội dung và nghệ thuật. Đại Việt thông sử là một trong những tác phẩm viết theo thể kỷ truyện đầu tiên trong lịch sử sử học Việt Nam, vừa tiếp nối những tri thức đã có từ những bộ sử trước vừa ghi chép hiện tại và đặc biệt chứa đựng nhiều tài liệu mà các bộ sử khác không có.

“Phủ biên tạp lục” là một công trình sử học – địa chí về vùng đất Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn, từ 1558-1775. Đó là một khảo cứu có giá trị của nhà bác học Lê Quý Đôn, được ông biên soạn tập trung trong năm 1776, khi đang làm Hiệp trấn phủ, Tham tán quân cơ tại Huế; đã được Ngô Thì Sĩ viết lời bạt ngợi ca năm 1777. Tài liệu cơ bản mà Lê Quý Đôn sử dụng để biên soạn Phủ biên tạp lục, ngoài các sách sử ký, địa chí, còn là các văn bản hành chính, thuế khóa, ruộng đất, binh chế, học chế, thơ văn dưới các đời chúa Nguyễn. Ông còn sử dụng tư liệu nhân chứng sống của các viên chức cũ và ông đã trực tiếp đi thực tế tìm hiểu địa thế, di tích, thu thập tư liệu mọi mặt. Bản dịch bổ chính Phủ biên tạp lục của nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh được MaiHaBooks tái bản lần này đã đóng góp vào việc hoàn thiện một danh sách làng xã, thôn ấp, phường giáp, trang trại thuộc các tổng, huyện, phủ của 2 xứ Thuận Hóa và Quảng Nam vào cuối thời chúa Nguyễn; cung cấp những hiểu biết xác đáng về các làng nghề, các địa phương tại Đàng Trong; đính chính những sai lầm về địa danh của các bản dịch trước đây. Điều đó góp phần phát huy hiệu quả sử dụng của Phủ biên tạp lục. Đặc biệt, trong lần tái bản này, MaiHaBooks đã bổ sung nội dung bản chữ Hán Phủ biên tạp lục được lưu trữ tại Centre National de la recherche scientifique – Paris (Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học – Paris), ký hiệu lưu trữ là: 8453-6. Microfilme le 1175, có đóng dấu tên Henri Maspéro (có lẽ đây là bản mà Henri Maspéro cho tiến hành sao chép đầu thế kỷ XX khi nghiên cứu về miền Trung Việt Nam nên có đóng dấu của ông). Đây là bản Phủ biên tạp lục đầy đủ gồm 6 quyển, với đủ các chương mục, trong đó ở cuối quyển 1 có bản danh sách tên, số lượng phủ, huyện, tổng, xã, thôn, trang, trại ở hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam. Với những nội dung đã điều chỉnh, bổ sung, MaiHaBooks hi vọng sẽ cung cấp cho bạn đọc những tài liệu hữu ích phục vụ việc tìm hiểu, nghiên cứu vùng đất Đàng Trong, đặc biệt là xứ Thuận Hoá và Quảng Nam vào cuối thời chúa Nguyễn.